Lý luận và thực tiễn về hai phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”

In trang

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX quyết định “…Đoàn triển khai tổ chức rộng khắp trong các đối tượng thanh thiếu nhi cả nước phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc” và “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”

 

 

LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HAI PHONG TRÀO

“NĂM XUNG KÍCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC”, “BỐN ĐỒNG HÀNH VỚI THANH NIÊN LẬP THÂN, LẬP NGHIỆP”


 

                                                                                                                                                   Nguyễn Mạnh Dũng

                                                                                                                                              Bí thư Trung ương Đoàn

 

    Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX họp tại Thủ đô Hà Nội từ ngày 18 đến ngày 21/12/2007 quyết định “…Đoàn triển khai tổ chức rộng khắp trong các đối tượng thanh thiếu nhi cả nước phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc”“Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”…”[1]. Thực tiễn hơn 3 năm qua cho thấy chủ trương này đã được hiện thực hoá thành hai phong trào lớn của tuổi trẻ dưới sự định hướng, dẫn dắt của tổ chức Đoàn, tạo nên một mốc son đánh dấu bước phát triển mới trong tiến trình lịch sử công tác Đoàn và phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ Việt Nam, góp phần “tạo được cảm hứng cho hệ thống Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và sự đồng cảm của xã hội”[2].

 

    Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 – 26/3/2011) và hướng đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X, tại Hội thảo khoa học “Đoàn TNCS Hồ Chí Minh – 80 năm xây dựng, cống hiến và trưởng thành”, tham luận này nhằm góp thêm một số nhận định khái quát dưới góc nhìn lý luận và thực tiễn về hai phong trào: “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ Tổ quốc”“Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” (sau đây gọi tắt là hai phong trào).

 

1. Bối cảnh phát động hai phong trào

 

    Sau thành công của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (tháng 4/2006), công cuộc đổi mới đất nước tiếp tục thu được những thành tựu quan trọng, tình hình chính trị, xã hội ổn định, kinh tế tiếp tục tăng trưởng khá, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện và nâng cao. Ngày 11/01/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại thế giới (WTO), đánh dấu sự cam kết tham gia đầy đủ các định chế kinh tế toàn cầu, mở rộng thị trường hàng hóa dịch vụ, đầu tư quốc tế, đổi mới mạnh mẽ hơn và đồng bộ hơn các thể chế, đồng thời cải cách nền hành chính quốc gia theo hướng hiện đại. Như vậy, ở vào thời điểm chuẩn bị nội dung văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, quá trình toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế đã và đang tác động mạnh mẽ đến đất nước ta, ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống thanh niên, đặt ra những thuận lợi đan xen với thách thức, khó khăn mới đối với toàn Đoàn và tuổi trẻ.

 

    Trong bối cảnh chung đó, tình hình thanh niên những năm đầu thời kỳ hội nhập đã có nhiều chuyển biến, thể hiện ở sự phân hoá ngày càng rõ về điều kiện, môi trường lao động, học tập, công tác, dẫn đến những thay đổi không đồng nhất trong những quan niệm, nhu cầu, định hướng giá trị của thanh niên [3]. Tuy vậy nhìn chung, thái độ và ý thức chính trị của thanh niên có chuyển biến tích cực hơn, ý thức lập thân, lập nghiệp cao hơn, tinh thần xung kích, tình nguyện được khơi dậy mạnh mẽ. Thanh niên là lực lượng có thế mạnh của đất nước trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, có khả năng và mong muốn được phát huy nhiều hơn nữa trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, thanh niên cũng rất cần được định hướng, hỗ trợ để vươn lên cùng đất nước, sánh vai cùng thanh niên các nước trong khu vực và thế giới.

 

    Phong trào “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”qua nhiệm kỳ Đại hội VIII (2002 – 2007) được Đoàn TNCS Hồ Chí Minh triển khai tổ chức đều khắp, đặc biệt là phong trào “Thanh niên tình nguyện” và các phong trào nhánh, như: thi đua dạy tốt, học tốt; “Sáng tạo trẻ”; “Bốn mới”,… phát triển mạnh mẽ đã góp phần tạo nên hình ảnh đẹp của người thanh niên Việt Nam luôn có mặt trên tuyến đầu ở những lĩnh vực khó khăn, vùng sâu, vùng xa, sẵn sàng dấn thân vì lợi ích cộng đồng. Phong trào cũng góp phần cổ vũ, định hướng và hỗ trợ thanh niên vươn lên trong học tập, lao động, lập thân, lập nghiệp. Tuy nhiên, đến cuối năm 2007, phong trào “Thanh niên tình nguyện” đã trải qua hơn 10 năm, nhiều mô hình, giải pháp, cách thức hoạt động thiếu tính đổi mới. Các phong trào nhánh khác chỉ là sự cụ thể hoá tinh thần thi đua, tình nguyện trong một vài đối tượng thanh niên, không có khả năng phát triển ra rộng khắp, vì thế chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu, nguyện vọng và tiềm năng to lớn của tuổi trẻ. Thực tiễn đặt ra yêu cầu phong trào thanh niên do Đoàn khởi xướng và tổ chức phải có nội dung và hình thức mới tạo được tính bao quát và hấp dẫn đối với các cơ sở Đoàn, cán bộ, đoàn viên và đông đảo thanh thiếu nhi.

 

2. Quá trình chuẩn bị, phát triển ý tưởng về hai phong trào

 

    Thời gian chuẩn bị dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khoá VIII trình Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX là quá trình tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận một cách nghiêm túc, trách nhiệm của Ban Bí thư, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khoá VIII, có sự thảo luận, góp ý rộng rãi, dân chủ của cán bộ, đoàn viên, các cơ sở Đoàn trong cả nước để xác định tên gọi và nội dung phong trào của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới.

 

    Bắt đầu từ khi chuẩn bị dự thảo Đề cương văn kiện, đã có nhiều ý kiến đề xuất về phong trào thanh niên. Các đề xuất này đã được Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khoá VIII thảo luận tại Hội nghị lần thứ 10 (tháng 10/2006); được đưa ra lấy ý kiến tại đại hội Đoàn cấp huyện (Quý I/2007). Theo Đề cương văn kiện, dự kiến 2 phong trào triển khai trong nhiệm kỳ mới là “Thanh niên tình nguyện”“Tuổi trẻ sáng tạo”.

 

    Tiếp tục quá trình tìm tòi, trăn trở khi chuyển Đề cương thành Dự thảo toàn văn của văn kiện, Ban Bí thư Trung ương Đoàn khoá VIII và Tiểu ban Nội dung Đại hội Đoàn IX đã nghiên cứu nghiêm túc ý kiến của cán bộ, đoàn viên, thanh niên qua các đại hội cấp cơ sở và cấp huyện; tham khảo nhiều tài liệu về các phong trào thanh niên những giai đoạn lịch sử trước đó. Một yếu tố thuận lợi khác là nhân tháng 3 – Tháng Thanh niên năm 2007 – Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã được làm việc với 3 đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước, qua đó, lĩnh hội nhiều ý kiến chỉ đạo, gợi ý về công tác Đoàn, phong trào thanh thiếu nhi trong thời kỳ mới [4]. Dự thảo Báo cáo toàn văn đã được Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn cho ý kiến tại nhiều hội nghị trong năm 2007, qua đó, ý tưởng về hai phong trào của Đoàn trong giai đoạn mới được hình thành với tên gọi là “Bốn đồng hành cùng thanh niên trên con đường lập thân, lập nghiệp”“Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”. (Phong trào “Tuổi trẻ sáng tạo” và “Thanh niên tình nguyện” được đưa vào 2 nội dung quan trọng trong 5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc, là: “Xung kích lao động sáng tạo và phát triển kinh tế - xã hội” và “Xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng”).

 

    Tên gọi và nội dung của hai phong trào đã được thảo luận rộng rãi tại đại hội Đoàn cấp tỉnh và báo cáo xin ý kiến Ban Bí thư Trung ương Đảng, đạt được sự hưởng ứng và đồng thuận. Đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, dự thảo trình ra Đại hội điều chỉnh cách xếp thứ tự, nêu “Năm xung kích” trước “bốn đồng hành” và chỉnh sửa tên phong trào thứ hai thành “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” để bảo đảm ngắn gọn và chính xác.

 

3. Những cơ sở lý luận và thực tiễn của hai phong trào

 

3.1. Cơ sở lý luận:

 

    Theo Từ điển Tiếng Việt, phong trào là hoạt động có định hướng, được nhiều người hưởng ứng, tham gia [5]. Nói đến phong trào của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là nói đến những hoạt động có định hướng chính trị, do Đoàn khởi xướng và dẫn dắt, được đông đảo thanh thiếu nhi tham gia thực hiện. Như vậy, để có một phong trào do Đoàn tổ chức theo đúng nghĩa phải bảo đảm ba yếu tố: một là, phải do các cơ quan lãnh đạo của Đoàn nghiên cứu từ lý luận và thực tiễn chỉ đạo công tác Đoàn mà phát động và tổ chức thực hiện; hai là, phải có tính định hướng chính trị rõ ràng; ba là, phải được sự hưởng ứng của đông đảo thanh niên để phong trào thực sự hiện hữu trong cuộc sống. Thực tiễn hơn 03 năm qua đã chứng minh hai phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” có đầy đủ các yếu tố đó.

 

    Để xây dựng nội dung hai phong trào, Ban Bí thư, Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Trung ương Đoàn đã nghiên cứu kỹ về vai trò và chức năng của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, đối chiếu với nhiệm vụ chính trị của toàn Đoàn và tuổi trẻ trong thời kỳ cách mạng hiện nay.

 

    Điều lệ Đoàn khẳng định: Về vai trò và chức năng, “Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh … là đội quân xung kích cách mạng”, là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên, “đại diện chăm lo và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của tuổi trẻ”. Về nhiệm vụ trong giai đoạn hiện nay, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh “tổ chức động viên đoàn viên, thanh niên cả nước đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, “phối hợp với các cơ quan Nhà nước, các đoàn thể và tổ chức xã hội, các tập thể lao động và gia đình chăm lo giáo dục, đào tạo và bảo vệ thanh thiếu nhi”. Như vậy, xét về chức năng, nhiệm vụ theo Điều lệ của Đoàn có hai vế rất quan trọng là phát huy vai trò xung kích của thanh niên và chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của tuổi trẻ.

 

    Là người sáng lập và lãnh đạo Đoàn, đề cập vấn đề phát huy và bồi dưỡng thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Thanh niên ta rất hăng hái. Ta biết họp lòng hăng hái đó lại và dìu dắt đúng đắn thì thanh niên sẽ thành một lực lượng rất mạnh mẽ” [6]. Đồng thời Người cũng nói: “Cần phải đi sâu vào đời sống, hiểu rõ tâm lý của các lớp thanh niên và giúp đỡ họ giải quyết các vấn đề một cách thiết thực”[7].

 

    Nghiên cứu các văn bản, nghị quyết, chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam từ trước đến nay về công tác thanh niên, chúng ta thấy có nhiều chỉ dẫn quan trọng về phong trào thanh niên. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 13/3/1991 của Bộ Chính trị về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên nói rõ: “Cần hướng phong trào thanh niên vào các hoạt động sau đây: Tham gia phát triển kinh tế…. tham gia củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh, bảo vệ Tổ quốc…”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X khẳng định: thanh niên là “lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”, “tạo mọi điều kiện để Đoàn huy động, tổ chức cho thanh niên tham gia thực hiện các nhiệm vụ, chương trình phát triển kinh tế - xã hội” [8]. Đảng cũng tin cậy giao cho Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là tổ chức chính trị - xã hội “đại diện cho quyền lợi của thanh niên” [9].

 

    Các nghiên cứu về tâm lý, xã hội và thực tiễn đều chỉ ra rằng để thực sự đi vào đời sống giới trẻ, phong trào phải xuất phát từ chính thanh niên, gắn bó với nhu cầu, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của thanh niên, thể hiện tư tưởng gần gũi, chăm lo, hỗ trợ thanh niên, có sức hấp dẫn đối với thanh niên. Thanh niên là lứa tuổi vừa cần được chăm lo, bồi dưỡng vừa phải được phát huy mạnh mẽ. Đây là hai mặt của một quá trình phát triển, hai nhu cầu của một thế hệ, hai phương thức của một quy trình giáo dục có sự gắn bó chặt chẽ, hữu cơ với nhau. Để hấp dẫn thanh niên, không chỉ chăm lo cho họ về lợi ích vật chất, tinh thần mà điều quan trọng không kém là tạo môi trường để họ được phát huy, khẳng định bản thân trong cộng đồng, trong công việc.

 

3.2. Cơ sở thực tiễn

 

    Tên phong trào phải đảm bảo ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thực hiện, có nội dung mới, đồng thời kế thừa được những giá trị tinh thần và kinh nghiệm tổ chức của những phong trào đã có tiếng vang trong lịch sử hơn 76 năm qua của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tiếp nối được nội dung các phong trào đã và đang triển khai có hiệu quả trong nhiệm kỳ liền trước.

 

    Xem xét kỹ nội dung cơ bản củaphong trào“Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, chúng ta thấy không có nội dung nào, mô hình, giải pháp nào mà không ít nhiều được thực hiện trong thực tiễn.

 

    Phong trào “5 xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” có nội dung cơ bản gồm:

 

+ Xung kích lao động sáng tạo, phát triển kinh tế - xã hộiphát triển trên nền tảng phong trào “Sáng tạo trẻ”, “Bốn mới”;

 

+ Xung kích, tình nguyện vì cuộc sống cộng đồngphát triển trên nền tảng phong trào “Thanh niên tình nguyện”

 

+ Xung kích bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hộiphát triển trên cơ sở nòng cốt là các phong trào trong thanh niên lực lượng vũ trang, cuộc vận động “Nghĩa tình biên giới, hải đảo”…;

 

+ Xung kích thực hiện cải cách hành chínhphát triển trên tinh thần thanh niên làm chủ tập thể, hăng hái tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, phong trào “Ba trách nhiệm”…;

 

+ Xung kích trong hội nhập kinh tế quốc tếphát triển trên cơ sở kết quả Cuộc vận động đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế của doanh nghiệp trẻ và thanh niên Việt Nam.

 

    Phong trào “4 đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” có nội dung cơ bản gồm:

 

+ Đồng hành với thanh niên trong học tập, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụcó cơ sở thực tiễn là các mô hình hỗ trợ thanh niên trong học tập, nghiên cứu khoa học, như: các loại quỹ học bổng, giải thưởng, câu lạc bộ học thuật…

 

+ Đồng hành với thanh niên trong nghề nghiệp và việc làmcó cơ sở thực tiễn từ việc khảo sát thấy nhu cầu bức thiết của thanh niên và việc Đoàn đã xây dựng trong nhiều năm những mô hình, giải pháp hỗ trợ thanh niên qua hoạt động của các trung tâm giới thiệu việc làm, hoạt động vay vốn,…

 

+ Đồng hành với thanh niên trong nâng cao sức khỏe thể chất và đời sống văn hoá tinh thầnlà hoạt động có thế mạnh của Đoàn qua các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao … ở cơ sở.

 

+ Đồng hành với thanh niên trong phát triển kỹ năng xã hộilà nội dung tương đối mới song đã được thực nghiệm qua các lớp huấn luyện kỹ năng cho cán bộ của Đoàn, Hội, Đội và một số mô hình mới phát triển ở các thành phố lớn.

 

    Cũng chính vì nảy sinh từ thực tiễn nên các nội dung củaphong trào“Năm xung kích” và “Bốn đồng hành” phản ánh đúng, khá đầy đủ những lĩnh vực hoạt động chủ yếu, những vấn đề có tính thời sự, những nhu cầu, nguyện vọng chính của thanh niên. Các lĩnh vực xung kích cần đến thanh niên hiện nay chính là trên mặt trận kinh tế, an sinh xã hội, bảo vệ Tổ quốc, cải cách nền hành chính quốc gia và hội nhập quốc tế. Các mặt của đời sống mà thanh niên cần sự chia xẻ, đồng hành chính là đáp ứng những nhu cầu về việc học, việc làm, vui chơi giải trí, phát triển thể chất, tinh thần và được trang bị các kỹ năng cần thiết trong xã hội hiện đại. Trong bối cảnh hiện nay, nội dung của phong trào “Năm xung kích” và “Bốn đồng hành” như trên là đầy đủ và phù hợp; phản ánh đúng nhiệm vụ chính trị của tổ chức Đoàn và lực lượng thanh niên, vì vậy, bảo đảm định hướng chính trị của phong trào hành động cách mạng trong thanh niên giai đoạn hiện nay.

 

4. Đánh giá khái quát kết quả thực hiện hai phong trào giai đoạn 2007 – 2010[10]

 

    * Về những thành công chủ yếu

 

    Một là, tên gọi và nội dung của hai phong trào đã được xác định đúng , vì thế đã đi vào thực tiễn, đạt hiệu quả thiết thực; được sự đồng tình ủng hộ cao của các cấp bộ Đoàn; góp phần nâng cao uy tín và vị thế chính trị của tổ chức Đoàn trong thanh thiếu nhi và xã hội.

 

    Phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” là cách diễn đạt quen thuộc (kiểu Ba sẵn sàng, Năm xung phong) nên được đồng tình chấp thuận ngay. Tên phong trào “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” ban đầu thu hút nhiều ý kiến khác nhau vì cho rằng “đồng hành với thanh niên” là phương châm hoạt động của Đoàn, không phải là phong trào thanh niên, không có tính hành động. Điều này được chứng minh ngược lại bởi tư tưởng chủ đạo của “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” là hành động để chăm lo cho lợi ích chính đáng của tuổi trẻ. “Bốn đồng hành” trước hết được thực hiện bởi đông đảo cán bộ đoàn, đoàn viên; mặt khác, đồng hành với nhau lập thân, lập nghiệp cũng chính là nhiệm vụ và hành động của thanh niên vì vậy phong trào đã thu hút được nhiều thanh niên hưởng ứng, tham gia.

 

    Thành công của hai phong trào là thành công cả trên khía cạnh lý luận và thực tiễn bởi trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII chỉ rõ: “Xây dựng môi trường xã hội lành mạnh là điều kiện phát triển của thế hệ trẻ và cũng là nhiệm vụ của chính thanh niên”. Đến Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X, điều này được khẳng định lại: “Mỗi thanh niên phải luôn rèn luyện, phấn đấu, vươn lên trong học tập, lao động và cuộc sống, … vươn lên lập thân, lập nghiệp và làm giàu chính đáng”. Xuất phát từ tư tưởng đúng đắn đó, “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” đã được cụ thể hoá, hiện thực hoá rất hữu hiệu trong hoạt động của Đoàn hướng đến các đối tượng thanh niên, thể hiện ở sự thành công của chủ đề công tác năm 2009 “Thanh niên với nghề nghiệp, việc làm” và các phong trào thanh niên vay vốn giúp nhau làm kinh tế; hỗ trợ, động viên, khuyến khích thanh niên vươn lên trong học tập, sáng tạo, các quỹ học bổng khuyến học, khuyến tài và gần đây là những phong trào học tập, rèn luyện kỹ năng xã hội.

 

    Hai là, những nội dung cơ bản của hai phong trào đều đã được cụ thể hoá và phát triển trong các đối tượng, lĩnh vực công tác với nội dung phong phú, hình thức đa dạng, nảy nở nhiều mô hình, giải pháp do đó đã phát huy được nội lực, tính tiền phong, xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong lao động và phát triển kinh tế - xã hội ở giai đoạn hiện nay; tập hợp, giáo dục thanh niên tham gia giải quyết những vấn đề bức xúc của cộng đồng; góp phần bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; đồng thời chăm lo cho lợi ích chính đáng của tuổi trẻ. Hai phong trào cũng tạo được định hướng chính trị rất rõ nét, tạo được ảnh hưởng đến các chương trình hành động và các cuộc vận động của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam, Hội Sinh viên Việt Nam và các tổ chức thanh niên khác. Tiêu biểu như chương trình Khi Tổ quốc cần, cuộc vận động Sinh viên 5 tốt… qua đó thể hiện rõ vai trò nòng cốt chính trị của Đoàn trong các tổ chức thanh niên và phong trào thanh niên.

 

    Ba là, nội dung phong trào có tính bao quát song không mất đi tính cụ thể nên trong từng thời kỳ nhất định, tổ chức Đoàn vẫn xác định tốt các vấn đề trọng tâm, trọng điểm, chú trọng việc mới, việc khó để thực hiện; do đó tạo được dấu ấn và tiếng vang xã hội. Tiêu biểu như: thành công của chủ đề “Thanh niên với nghề nghiệp và việc làm” năm 2009, thành công của “Tháng Thanh niên năm 2010 với chủ đề “Tuổi trẻ hành động vì môi trường”, thành  công của Chiến dịch thanh niên tình nguyện hè 2010 với chủ đề “Thanh niên tình nguyện cùng xã nghèo vượt khó”…

 

    * Một số hạn chế

 

    Một là, công tác nắm bắt tình hình, kiểm tra, hướng dẫn, sơ kết, tổng kết nhân rộng các mô hình, cách làm hiệu quả thực hiện chủ trương, nghị quyết của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Trung ương Đoàn của một số tỉnh, thành Đoàn còn hạn chế.

 

    Hai là, một số nội dung còn chậm cụ thể hoá, tính quyết tâm thực hiện chưa cao, như: Đồng hành với thanh niên trong phát triển kỹ năng xã hội; Xung kích trong hội nhập kinh tế quốc tế. Có nội dung đã tích cực triển khai nhưng hiệu quả đạt được chưa cao, ví dụ như: Xung kích trong cải cách hành chính.

 

5. Ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm

 

5.1. Ý nghĩa lịch sử

 

    Với sự ra đời của hai phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ Tổ quốc”, “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, phong trào thanh niên có bước phát triển mới cả về lý luận và thực tiễn, cả về chất và lượng của phong trào thanh niên.

 

    Trong hai phong trào thì bước tiến lớn nhất về mặt lý luận chính là ở việc coi “đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” là một phong trào tuổi trẻ. Phù hợp với nguyên tắc “tự giáo dục”, “tự rèn luyện” của thanh niên dưới sự hỗ trợ, tạo điều kiện của tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và toàn xã hội. Thể hiện mạnh mẽ và xuyên suốt tư tưởng đổi mới phương thức hoạt động của Đoàn theo hướng ngày càng sát với thanh niên, chăm lo bảo vệ lợi ích chính đáng của tuổi trẻ.

 

    Với việc thực hiện hai phong trào, đặc biệt là “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” đã bước đầu khắc phục được một hạn chế tồn tại khá lâu trong hoạt động của Đoàn  về quan tâm đến giải quyết những nhu cầu, lợi ích hợp pháp và chính đáng của giới trẻ trong việc học, việc làm, vui chơi, giải trí.

 

    Phân tích nội dung hai phong trào cho thấy rõ cơ sở hiện thực xã hội và yếu tố kế thừa lịch sử của nó. Đồng thời cũng thấy rõ giá trị phát triển ở tầm cao mới là tính khái quát trong xác định tên gọi và nội dung phong trào. Cũng là sự tiếp nối của “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ giữ nước”, “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” nhưng tư tưởng xung kích và đồng hành đã được khái quát hoá ở mức cao hơn, để “tạo cơ hội cho các cấp bộ Đoàn tiếp cận những vấn đề chung cũng như sự lựa chọn của mỗi cơ sở Đoàn phù hợp với yêu cầu của từng địa phương, đơn vị”[11].

 

5.2. Bài học kinh nghiệm

 

    Từ thực tiễn xây dựng và triển khai thực hiện hai phong trào, chúng ta có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cơ bản sau:

 

    Một là, trong nghiên cứu xác định nội dung và phát động phong trào thanh niên, phải luôn luôn bám sát chức năng, nhiệm vụ của tổ chức Đoàn, những nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho trong từng thời kỳ lịch sử; đồng thời, phải đáp ứng đúng nhu cầu, lợi ích của thanh niên, sát với tình hình thanh niên và các điều kiện thực tiễn.

 

    Hai là, tư tưởng và nội dung của phong trào phải luôn luôn bao hàm  được hai vế “phát huy” và “bồi dưỡng” thanh niên. Hai mặt này có sự gắn bó hữu cơ với nhau, trong phát huy có bồi dưỡng và trong chăm lo, bồi dưỡng có sử dụng, phát huy; cổ vũ sự tự rèn luyện qua hành động thực tiễn của mỗi thanh niên để có người thanh niên, lớp thanh niên phát triển toàn diện.

 

    Ba là, để định hình được phong trào mới là quá trình suy nghĩ, tìm tòi sáng tạo một cách nghiêm túc, luôn tôn trọng, kế thừa lịch sử, song cũng phải có quyết tâm chính trị rất cao trong đổi mới, đề ra mục tiêu, phương hướng, nhất quán về mặt tư tưởng và kiên định trong hành động thực tiễn, phấn đấu đạt đến tiêu chuẩn cao nhất là phong trào được thực tiễn thừa nhận, đi vào đời sống thanh niên, tạo được dấu ấn xã hội, sau đó là tạo được dấu ấn lịch sử.

 

6. Những kiến nghị về định hướng phát triển phong trào trong giai đoạn mới

 

    Lý luận về công tác Đoàn, phong trào thanh thiếu nhi cũng như đường lối công tác thanh vận của Đảng ta hiện nay luôn đề cập hai khía cạnh “phát huy vai trò xung kích” và “chăm lo quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên”. Trong thời kỳ mới, hai vế này được thể hiện song song, có vị trí quan trọng ngang nhau. Hai phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” có nội dung phù hợp với chức năng, nhiệm vụ cơ bản của Đoàn, phù hợp với tư tưởng chỉ đạo của Đảng về công tác thanh niên, có phạm vi rộng và có khả năng cụ thể hoá được trong nhiều lĩnh vực công tác, nhiều đối tượng thanh niên. Vì vậy, phong trào có tiềm năng và sức sống trong thời gian tới.

 

    Trên cơ sở đánh giá thực tiễn công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi thời gian qua, chúng tôi đề xuất:

 

    Một là, tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng phong trào “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” trong thời gian tới. Trước mắt, đẩy mạnh thực hiện những nội dung xung kích và đồng hành đã đề ra song còn hạn chế trong việc thực hiện như đã nêu ở những phần trên.

 

    Hai là, tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện về nội dung và chỉ đạo thực hiện trong các đối tượng thanh niên để hai phong trào trên khẳng định sức sống mạnh mẽ, trở thành phong trào lớn của Đoàn trong nhiệm kỳ 2012 – 2017 với nội dung phong phú, hình thức đa dạng và hiệu quả hơn. Thực tiễn chỉ đạo phong trào thanh niên cho thấy kinh nghiệm là trong điều kiện kinh tế - xã hội phát triển bình thường, phong trào hình thành và phát triển trong khoảng 10 năm là vừa đủ. Hiện nay, hai phong trào mới triển khai được hơn 03 năm, tư tưởng và các nội dung mới “thấm” đến cơ sở và nhiều nơi vẫn đang cụ thể hoá. Mặt khác, như trên đã nói, nội dung của “Năm xung kích …” và “Bốn đồng hành…” vốn có tính khái quát cao nên còn có nhiều khả năng phát triển, bổ sung nội hàm, mở rộng về giải pháp thực hiện. Điều đó đặt ra những gợi mở để phát triển phong trào trong nhiệm kỳ mới.

 

    Ba là, ngay từ bây giờ chúng ta cần chuẩn bị, nghiên cứu để đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X sẽ tổng kết việc thực hiện hai phong trào trong giai đoạn 2007 - 2012, đánh giá kỹ kết quả của từng nội dung xung kích và từng nội dung đồng hành, chỉ ra những nội dung, giải pháp đã triển khai tốt và những nội dung còn nhiều lúng túng; nhất là, phải chỉ ra về mặt lý luận và thực tiễn xem 5 nội dung xung kích và 4 nội dung đồng hành đó đã đủ chưa, có phải lược bớt, điều chỉnh hoặc bổ sung thêm nội dung gì tại Đại hội X sắp tới. Cần khẳng định rõ về mặt lý luận “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp” là một sáng tạo mới trong xây dựng phong trào thanh niên. Điều chỉnh một số nội dung, sửa đổi “xung kích trong hội nhập kinh tế quốc tế” thành “Xung kích trong hội nhập quốc tế”…


Chú thích:

 

  [1] Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, NXB Thanh niên, 2008, tr.34

  [2] Báo cáo kiểm điểm thực hiện NQ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX trong nửa đầu nhiệm kỳ (2007 – 2010)

  [3] Xem nhận định về nhu cầu mong muốn của từng đối tượng thanh niên trong Văn kiện Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX, Nhà xuất bản Thanh niên, 2008, tr.71 đến tr.74.

 

  [4] Thủ tướng Chính phủ làm việc với Ban Bí thư Trung ương Đoàn ngày 22/3/2007; Thường trực Ban Bí thư và lãnh đạo các Ban của Trung ương Đảng làm việc với Ban Bí thư Trung ương Đoàn ngày 23/3/2007; Chủ tịch nước đối thoại trực tiếp với thanh niên ngày 25/3/2007.

  [5] Từ điển Tiếng Việt, NXB Ngôn ngữ, …

 

  [6] Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 7, tr.162-163, NXB CTQG 1996, bài viết về Đội TNXP.

  [7] Những lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, NXB Sự Thật, Hà Nội 1962, Tập VI, tr.168 – 172.

  [8]  Văn kiện Đảng về công tác thanh niên, tập 3, NXB Thanh niên, 2008.

  [9]  Điều 44 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

  [10] Ban Thường vụ Trung ương Đoàn đã có báo cáo chuyên đề đánh giá về từng phong trào; Báo cáo kiểm điểm thực hiện NQ ĐH Đoàn IX trong nửa đầu nhiệm kỳ cũng đã có đánh giá kết quả hai phong trào. Trong tham luận này chỉ nêu lên một số vấn đề có tính khái quát mang ý nghĩa lý luận lịch sử.

  [11] Báo cáo kiểm điểm thực hiện NQ ĐH Đoàn toàn quốc lần thứ IX trong nửa đầu nhiệm kỳ, 2007 – 2010.

 

-------------------------------------


 

Tạp chí điện tử Thanh Niên Việt
Cơ quan của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

Giấy phép hoạt động Tạp chí điện tử Thanh niên Việt  số 08/GP - Bộ Thông tin Truyền thông cấp ngày 04-01-2011.

Chỉ số xuất bản: ISSN 08866 - 8507 TCTN

Tổng Biên tâp: TS. Lê Văn Cầu;

Phó tổng biên tập: Nguyễn Toàn Thắng, Đỗ Quang Huỳnh

Tòa soạn: Số 5 Chùa Láng, Quận Đống Đa, Hà Nội
Điện thoại: 043.7751.671 - 0913.533.992  -  Fax: 043.7751.798 
Email: thanhnienviet.vn@gmail.com

Ban đại diện phía Nam: 231L Đào Duy Anh - Phường 9 - Quận Phú Nhuận - TP.Hồ Chí Minh

Điện thoại: (08)3.8422.616 - Fax: (08)3.8422.615

Email: tapchithanhnien@yahoo.com

Thiết kế và Tài trợ bởi VietNet Jsc